Thứ Sáu, ngày 12 tháng 9 năm 2014

Những tác động của tâm lý gây ảnh hưởng khó tin trong thực tế (Phần 2)


Những quyết định đơn thuần của chúng ta dường như bây giờ là rất hiếm có bởi các tác nhân ngoài xã hội ảnh hưởng.

Tóm tắt bài viết:

- Trong cuộc sống, những quyết định của chúng ta bị ảnh hưởng rất nhiều từ những tác động bên ngoài.

- Trong phần II của bài viết, chúng ta sẽ tìm hiểu sự tác động của font chữ lên niềm tin của người đọc, tác dụng của quảng cáo hay ảnh hưởng của kích thước và màu sắc lên suy nghĩ của chúng ta.


Nếu mọi điều trên thế giới này đều độc lập tồn tại với nhau, kể cả con người thì rõ ràng suy nghĩ và những quyết định chúng ta đưa ra hàng ngày sẽ không có quá nhiều yếu tố tác động tới. Những quyết định đơn thuần của chúng ta dường như bây giờ là rất hiếm có bởi các tác nhân ngoài xã hội ảnh hưởng.

Liệu có bao giờ bạn tự hỏi chính mình rằng có bao nhiêu phần trăm niềm tin, cảm xúc thật sự trong những suy nghĩ và việc làm của mình ? Rõ ràng sống trong một xã hội càng phức tạp thì con người càng dễ bị ảnh hưởng nhiều hơn. Sau đây hãy cùng tham khảo một số yếu tố được coi là ảnh hưởng nhiều tới các quyết định trong cuộc sống hiện đại ngày nay, cùng xem cách chúng ảnh hưởng đến chúng ta.

Font chữ có ảnh hưởng lớn tới niềm tin của người đọc

Có vô vàn các kiểu chữ, font chữ khác nhau được sử dụng, và chúng cũng thể hiện được một phần nào đó tính chất của sự việc chúng ta đang viết về. Ví dụ như với kiểu chữ comic sans, đây là một kiểu chữ thường được sử dụng trong những tấm thiệp mời sinh nhật của một đứa trẻ hoặc một thông báo của một câu lạc bộ địa phương. Nó không phù hợp để sử dụng trong tạp chí khoa học hãy những tạp chí uy tín.


Những tác động của tâm lý gây ảnh hưởng khó tin trong thực tế (Phần 2)


Sự thật là những kiểu chữ được sử dụng cho các câu truyện, tin tức, blog hay bài luận có thể tác động đến sự tin tưởng của chúng ta với nội dung đó. Năm 2012, Errol Morris - một người phụ trách chuyên mục của tờ New York Times đã làm một thử nghiệm. Ông lấy một đoạn văn từ một cuốn sách dự đoán về khả năng có đại hồng thủy trên Trái đất cho mọi người đọc và sau đó hỏi có bao nhiêu trong số họ tin vào đoạn văn đó. Các câu hỏi được lập trình để hiện thị trong một trong 6 phông chữ ngẫu nhiên : Trebuchet, Computer Modern, Baskerville, Georgia, Comic Sans và Helvetica. Đã có 45.524 người tham gia bài kiểm tra này.

Các con số, dữ liệu đã được xử lý và cuối cùng kiểu chữ Baskerville có lợi thể lớn hơn 1,5% số người chọn “đồng ý” (tức là tin vào đoạn văn) so với các kiểu khác. Trong các câu trả lời theo 5 mức độ từ hoàn toàn đồng ý tới rất không đồng ý, kiểu chữ nói trên cũng có nhiều tỉ lệ người chọn mức đồng ý lớn nhất và ít tỉ lệ người rất không đồng ý nhất. Con số 1,5% có vẻ không nhiều, tuy nhiên xét trên phương diện một bài kiểm tra trên diện rộng thì như vậy nó có tác động khá lớn. Nhà tâm lý học David Dunning cũng đã phân tích thêm và tin rằng trong một số tin tức hoặc thông báo mang tính chất nghiêm trọng, sự tác động của kiểu chữ lên tâm lý người nhìn là rất lớn. Do đó mà trong các bài viết mang tính nghiêm túc thường không sử dụng những kiểu chữ quá phức tạp hay kiểu cách.

Lý thuyết cửa sổ vỡ về hành vi của con người

Không cần biết đạo đức bạn ở mức nào, điều đang nói tới sẽ chỉ ra rằng hành vi của bạn dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh mà bạn đang sống, nếu môi trường xấu bạn cũng dễ dàng làm những điều xấu hơn. Nó được gọi là lý thuyết “Broken Windows” (cửa sổ vỡ), được đưa ra bởi J.Willson và G.Kelling.


Những tác động của tâm lý gây ảnh hưởng khó tin trong thực tế (Phần 2)


Người ta đã làm một thí nghiệm như sau: Họ đặt 2 chiếc xe đắt tiền tại hai đầu của một khu phố - nơi sinh sống của những người trung lưu trong xã hội Hoa Kỳ - một chiếc xe bình thường và một chiếc bị đập vỡ kính và tháo mất biển số. Kết quả - chiếc xe thứ hai bị trộm sau một tuần trong khi chiếc thứ nhất không việc gì. Họ lại đập vỡ kính của chiếc thứ nhất – sau đó một tuần nữa, đến lượt chiếc xe này bị trộm.

Lý thuyết cửa sổ vỡ được phát biểu như sau: Khi một tấm kính cửa sổ bị vỡ và không được sửa chữa – người ta sẽ cho rằng hành động đập vỡ cánh cửa được dung túng và sẽ có thêm những tấm kính vỡ khác. Những cánh cửa sổ bị phá vỡ này lại gây ra cảm giác hỗn loạn và những hành động phạm tội tương tự có thể bùng nổ trên diện rộng. Chính vì điều này, nhiều sở cảnh sát thường thực hiện những chiến dịch trên một khu vực lớn nhất định chứ không chỉ đánh vào những vụ việc cụ thể, điều này đã giúp an ninh nói chung tại khu vực đó được nâng cao.

Ngoài ra, cũng thuộc phạm trù của lý thuyết này, nếu ai đó có cơ hội quan sát những nhóm người ở các đất nước có tình trạng giao thông tốt và cùng với nhóm người đó sinh sống ở các nước có cơ sở giao thông chưa được tốt lắm thì họ sẽ nhận ra một điều rằng: Dường như sau một thời gian sinh sống ở môi trường thứ hai, nhóm người đó có xu hướng phóng nhanh hơn, hay phạm luật hơn và dễ dãi với các hành vi phạm luật hơn.

Kích thước đĩa tác động tới lượng thức ăn chúng ta ăn


Những tác động của tâm lý gây ảnh hưởng khó tin trong thực tế (Phần 2)


Những ảo ảnh quang học, gọi là Illusion Delboeuf, đề cập đến một tình huống trong đó có một vòng tròn được đặt bên trong một vòng tròn khác. Tùy thuộc vào kích thước của vòng tròn bên ngoài, bạn sẽ có cảm giác vòng tròn bên trong hoặc lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế. Nếu khoảng trống giữa hai vòng tròn lớn, nó có thể làm cho vòng tròn bên trong trông nhỏ hơn.

Điều này bắt đầu được ghi chép trong những tài liệu kể từ năm 1865. Một nghiên cứu đã yêu cầu mọi người cầm hai đĩa có kích cỡ khác nhau và tự lấy một lượng đồ ăn cho bản thân. Kết quả là những người cầm đĩa lớn hơn sẽ lấy nhiều hơn 13% lượng đồ ăn so với những người cầm đĩa nhỏ hơn. Điều tương tự cũng xảy ra khi chúng ta được yêu cầu lấy đồ uống. Điều này xảy ra do não của chúng ta đã không nhận ra được những ảo ảnh giữa lượng và kích thước tương đối. Và điều này còn khó đánh giá hơn đối với chiều dọc, một bartender lâu năm thường sẽ nghĩ rằng một ly cao và hẹp chứa được nhiều nước hơn nó có thể. Điều thú vị là kích thước trung bình của các đĩa ăn tại Mỹ đã tăng lên gần 25% trong thế kỷ qua, trùng hợp với sự tăng tưởng của căn bệnh béo phì.

Màu sắc có thể thay đổi mọi thứ


Những tác động của tâm lý gây ảnh hưởng khó tin trong thực tế (Phần 2)


Các nhà trang trí nội thất có ý kiến rằng chúng ta cần phải chọn màu sắc cho căn phòng của mình dựa trên cảm xúc mà chúng ta muốn căn phòng có. Theo một bài báo trên tạp chí Forbes, doanh nghiệp có thể tác động tới tâm trạng của khách hàng bằng việc lựa chọn các màu sắc cẩn thận. Các màu sắc nóng, chẳng hạn như màu đỏ hay da cam, thực sự có thể làm cho chúng ta cảm thấy ấm áp hơn. Trong khi đó gam màu lạnh như xanh biển có thể làm chúng ta thấy mát mẻ hơn. Và màu sắc cũng có thể gây nên ảo giác Delboeuf. Khi màu đĩa tương phản với thực phẩm nó chứa, bạn sẽ có xu hướng nghĩ rằng mình đang ăn nhiều hơn và ngược lại. Khi các đĩa có cùng màu sắc với đồ ăn, bạn sẽ ăn nhiều hơn.

Giả thuyết rằng màu sắc của ánh sáng có thể còn ảnh hưởng mạnh tới hành động của con người cũng được đưa ra xem xét. Năm 2000, thành phố Glasgow, Scotland thay đổi màu một số đèn đường thành màu xanh, một màu sắc được cho là sẽ cho cảm xúc dịu mát dễ chịu. Theo các quan chức thành phố, tội phạm trong khu vực đèn xanh này đã giảm mạnh. Cũng tương tự như vậy ở Nhật Bản, công ty đường sắt Keihin Electric sau đó cũng đặt đèn màu xanh tại nhà ga, bởi khu đường sắt đó là một địa điểm tự tử nổi tiếng. Theo nhà ga, các vụ tự sát đã giảm đáng kể tại Trạm Gumyoji sau khi đèn màu được thay đổi.

Quảng cáo luôn có tác dụng, dù chúng ta đã cố gắng bỏ qua chúng

Các công ty sẽ không chi hàng đống tiền vào những thứ vô dụng, nên đương nhiên là quảng cáo luôn có tác dụng. Họ cũng hiểu rằng thứ gì sẽ có tác dụng tốt nhất, và đó chính là lý do tại sao chúng ta thường thấy một số quảng cáo ngẫu nhiên lẫn vài thông điệp không liên quan tới sản phẩm của nó.


Những tác động của tâm lý gây ảnh hưởng khó tin trong thực tế (Phần 2)


Một nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học George Washington và Đại học California đã cho các tình nguyện viên xem hai loại quảng cáo : một là những quảng cáo sử dụng phương pháp liệt kê thông tin về một sản phẩm để quảng bá về nó và những quảng cáo sử dụng những ý tưởng về cảm giác và hình ảnh ngẫu nhiên có vẻ không liên quan tới sản phẩm thực tế. Với loại thứ nhất, khi các tình nguyện viên xem, hoạt động điện não của họ thấp hơn đáng kể so với loại thứ hai. Rõ ràng các hình ảnh dù không liên quan đến nội dung chính nhưng lại có tác dụng kích thích phản ứng não bộ tốt hơn.

Quảng cáo cũng được thiết kế để làm việc ngay cả khi bạn chỉ lướt qua nó một cách mau chóng. Với sự phát minh của máy ghi video kỹ thuật số, nó ban đầu nghĩ rằng sẽ làm mất hiệu quả của quảng cáo truyền hình bởi một số người sẽ bỏ qua hẳn đoạn quảng cáo. Một nghiên cứu của Viện phản hồi kinh doanh Havard cho thấy điều này hoàn toàn không đúng sự thật, bạn có thể nghĩ rằng bạn đang bỏ qua các quảng cáo tuy nhiên bạn vẫn bị ảnh hưởng bởi chúng. Để tua nhanh về phía trước , bạn cần phải nhìn vào màn hình để biết khi nào dừng lại và điều đó có nghĩa rằng bạn sẽ phải chú ý đến quảng cáo để bỏ qua. Một khi chúng ta đã nhìn thấy một cái gì đó một lần, não của chúng ta có thể nhận ra nó từ đoạn chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang bỏ qua.

Màu sắc ảnh hưởng tới tâm lý như thế nào?


Màu sắc không hề đơn giản như chúng ta thường nghĩ, mà ẩn chứa đằng sau chúng là rất nhiều ý nghĩa cực kì thú vị.

Màu sắc không hề giản đơn như chúng ta hằng nghĩ. Chúng có thể mang đến cho bạn những cảm xúc khác nhau và kích thích các giác quan của bạn. Khám phá tâm lý của con người qua màu sắc có thể giúp chúng ta lựa chọn được màu sắc ưng ý và phù hợp hơn trong việc trang trí cho ngôi nhà của mình và hiểu rõ hơn lý do vì sao người ta thường dùng một số màu đặc biệt trong quảng cáo.


Bấm vào hình để xem khổ lớn

Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị


Chúng xảy ra xung quanh chúng ta, nhưng ít ai để ý tới.

1. Hiệu ứng Pratfall

Có lẽ đây là hiệu ứng tâm lý thú vị nhất, mà ai cũng từng trải qua, dù có nhận thức được nó hay không. Hãy tượng tượng rằng bạn đang phải lòng một cô nàng, có vẻ là người tài giỏi, tốt bụng và duyên dáng. Tình cờ bạn thấy cô ấy vấp ngã trên đường. Vì nhiều lý do, cảm xúc mà bạn dành cho nàng sẽ tăng lên, và bạn thấy rằng mình thậm chí bị thu hút hơn vì sự vụng về ấy.


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



Trong các lĩnh vực thể thao, kinh doanh và chính trị, hiện tượng tâm lý này được gọi là hiệu ứng Pratfall, được phân tích và đặt tên bởi nhà nghiên cứu Elliot Aronson năm 1996. Nghiên cứu cho thấy rằng chúng ta có khuynh hướng thích những người không hoàn hảo, những người mắc lỗi và biết nhận lỗi. Tuy không đúng trong tất cả mọi trường hợp, ví dụ nam giới sẽ bị thu hút trước những cô nàng vụng về hơn là chiều ngược lại, nguyên lý cơ bản ở đây là là một người sẽ dễ được yêu mến hơn nếu họ cho thấy họ vẫn có những điểm không hoàn hảo.

2. Hiệu ứng Allee

Hiệu ứng Allee được phát biểu là tốc độ tăng kích thước của một quần thể tỉ lệ với số lượng cá thể của của quần thể đó. Nói cách khác, những con cái sẽ sinh nhiều hơn khi mật độ dân số cao hơn. Hiệu ứng này được đặt tên theo tên của nhà động vật học người Mỹ Walter Clyde Allee. Hiệu ứng này đã thay đổi những suy nghĩ thông thường về sự gia tăng kích thước quần thể theo sinh học thông thường.


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



Tại thời điểm cuộc nghiên cứu diễn ra, mọi người vẫn tin rằng một loài sẽ phát triển thịnh vượng hơn tại một mức dân số thấp hơn, vì nguồn thức ăn khi ấy sẽ trở nên dồi dào hơn. Tuy nhiên, Allee đã chứng minh rằng khi dân số giảm sẽ khiến khả năng bảo vệ bầy đàn cũng theo đó mà giảm. Tức là, một nhóm càng đông thì sẽ càng phát triển nhanh, ở một giai đoạn nào đó.

3. Thuyết động lực và hiệu ứng khán giả.

Hiệu ứng khán giả nói đến sự ảnh hưởng của khán giả gây ra lên người biểu diễn. Hiện tượng này bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 1930, và được đưa ra trong 2 trường hợp: một số người sẽ càng tự tin khi nhiều người theo dõi, trong khi một số người khác sẽ bị stress và biểu diễn tệ hơn nhiều so với khả năng thực của họ.


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



Năm 1965, nhà tâm lý học Ribert Zajonc đưa ra giả thiết rằng thuyết động lực có thể giải thích cho hiệu ứng khán giả. Zajonc cho rằng yếu tố quyết định việc một đám đông gây ra ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực lên người biểu diễn phụ thuộc vào “độ dễ” của tiết mục đó. Nếu người biểu diễn tin rằng cô ấy/ anh ấy sẽ thành công, thì sự cổ vũ của khán giả sẽ tiếp thêm tự tin để hoàn thành phần biểu diễn và ngược lại, nếu ngay từ đầu đã mất tự tin thì sự cuồng nhiệt của khán giả sẽ càng làm cô ấy mất bình tĩnh.

4. Hiệu ứng Leidenfrost

Được đặt tên theo một bác sĩ người Đức Johann Gottlob Leidenfrost vào năm 1796, hiệu ứng Leidenfrost là hiện tượng vật chất xảy ra khi chất lỏng tiếp xúc với một mặt phẳng nóng hơn nhiệt độ sôi của nó. Hội đủ những điều kiện này, chất lỏng tạo ra một lớp hơi bảo vệ xung quanh nó để chống lại hiện tượng sôi lên nhanh chóng. Chính vì thế, nếu bạn vung những giọt nước nhỏ lên một cái chảo nóng, chúng chuyển động loạn xạ trên mặt chảo. Trong trường hợp trên, nước sẽ sôi và bốc hơi chậm hơn rất nhiều nếu nhiệt độ của chảo nằm giữa nhiệt độ sôi và điểm Leidenfrost.


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



5. Hiệu ứng Pygmalion

Hiệu ứng này được phát biểu là: mức độ mong đợi có xu hướng tương ứng với kết quả biểu diễn. Tất nhiên, điều này không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp, nhưng theo nghiên cứu về các hiệu ứng tâm lý, nó chiếm đa số. Cái tên Pygmalion được lấy từ bộ phim “My Fair Lady”, còn được gọi là hiệu ứng Rosenthal. Hiệu ứng này bản chất là một kiểu tiên đoán về sự tự hài lòng với bản thân.


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



Sự ảnh hưởng của Pygmalion được tìm hiểu rất nhiều trong những lĩnh vực thể thao, kinh doanh và đặc biệt là trong giáo dục. Trong kinh doanh, hiệu ứng này được kiểm nghiệm khi các nhà quản lý nhận được kết quả dựa trên những mong đợi của họ đối với nhân viên. Tương tự vậy, cuộc nghiên cứu của Robert Rosenthal và Lenore Jacobson về ảnh hưởng Pygmalion trong lớp học cho thấy: khi giáo viên trông đợi những kết quả cao từ học sinh thì những học sinh này thường không khiến họ thất vọng.

6. Hiệu ứng Bruce

Trong thời gian mang thai, con cái thuộc các loài gặm nhấm thường tự phá hủy cái thai của mình khi phát hiện ra mùi của một con đực lạ. Hiệu ứng này lần đầu được phát hiện bởi một nhà động vật học người Anh Hilda Bruce, khi ông quan sát một số loài chuột đồng, khỉ gelada và thậm chí cả sư tử. Nghi ngờ việc thực hiện nghiên cứu trên những loài động vật bị nhốt trong chuồng có thể dẫn đến kết quả sai, nhà nghiên cứu Eila Roberts tại đại học Michigan đã tiến hành nghiên cứu trong thế giới hoang dã. Nhưng cả hai trường hợp đều dẫn đến cùng một kết quả: tại sao một con thú mẹ có thể giết chết con mình?


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



Roberts dành 5 năm để nghiên cứu những con gelada ở Ethiophia, và thu thập dữ liệu từ 110 con cái trong 21 nhóm khác nhau. Sau khi phân tích những mẫu hormon liên quan đến việc mang thai, Roberts phát hiện ra rằng trong những nhóm có con gelada đực đầu đàn, rất nhiều con cái sẽ tự phá thai từ rất sớm. Những nhóm không có con đực nắm quyền có tỉ lệ sinh cao hơn. Câu trả lời là những con đực có khuynh hướng giết chết những con gelada sơ sinh, bởi con cái chỉ tiếp tục sinh sản sau khi nó không còn phải nuôi những con nhỏ nữa, và những con đực trở nên mất kiên nhẫn. Những con cái tự phá thai bởi nó biết được những đứa con thế nào cũng sẽ bị giết, và làm vậy sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức.

7. Hiệu ứng toàn cảnh

Trong số những hiệu ứng tâm lý mà chúng ta đã từng biết đến, quan sát, hay nghiên cứu, hiệu ứng toàn cảnh có thể được xem là ít phổ biến nhất – chỉ 534 người có cơ hội trải qua những điều kiện để cảm nhận được hiệu ứng này. Khi những nhà du hành đang ở trong quỹ đạo hay trên bề mặt của mặt trăng, nơi mà họ có thể thấy toàn bộ trái đất, nhiều người tường thuật lại rằng họ có một cảm giác rất thật về quy mô và viễn cảnh.


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



Được đặt tên bởi nhà văn Frank White, hiệu ứng này có thể là sự chuyển động, bối rối, hứng khởi và cảm giác mạnh, như khi nhìn thấy được toàn cảnh của trái đất. Những phi hành gia trở về với một cảm nhận hoàn toàn khác về sự kết nối của con người, sự vô nghĩa của những ranh giới văn hóa, và họ quan tâm hơn đến môi trường.

8. Hiệu ứng Sleeper


Khám phá những hiệu ứng tâm lý thú vị



Hiệu ứng Sleeper là một trạng thái tâm lý nhận được nhiều sự quan tâm và đồng thời cũng gây ra nhiều tranh luận, liên quan đến sự ảnh hưởng của những thông điệp mà một người nhận được đến ý thức của họ. Nhìn chung, khi một người xem một mẫu quảng cáo có nội dung tích cực, một mối quan hệ tích cực với thông điệp, hay sản phẩm ấy được hình thành. Tuy nhiên, qua một thời gian ngắn, nó phai dần và cuối cùng thì mất đi. Ngược lại, dưới một số điều kiện, nếu thông điệp đến kèm theo một điểm nhấn hoặc một liên hệ tri thức mật thiết với đời sống người xem thì sự kết nối với thông điệp đó sẽ tồn tại trong thời gian dài hơn.

Nguyên nhân tâm lý khiến tuổi "trẻ trâu" có quyết định bốc đồng


Nghiên cứu mới chỉ ra, chính hoạt động của phần vỏ não trước trán khiến thanh thiếu niên có những hành động mang tính bốc đồng.

Có một sự thật là nhiều thanh thiếu niên khi bước vào tuổi mới lớn không ngại ngần khi làm những điều được cho là điên rồ nhất: uống rượu vô độ, lái xe ở tốc độ cao, xúc phạm cha mẹ... Nhiều người biện minh cho những hành động này là do bản tính hiếu thắng, bốc đồng, ngang ngạnh của tuổi mới lớn.

Nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc ĐH Temple đã chỉ ra chính phần vỏ não trước trán là yếu tố quyết định cho những hành động mang tính bốc đồng này.


 Nguyên nhân tâm lý khiến tuổi



Theo các chuyên gia, phần vỏ não trước trán có khả năng điều hòa cảm xúc tiêu cực, điều hành chức năng nhận thức cao cấp như lập kế hoạch, phán đoán, giải quyết vấn đề lý luận, quyết định sự thông minh của bộ não.

Để hiểu rõ hơn, các chuyên gia đã sử dụng máy chụp cộng hưởng từ (fMRI) và chụp cắt lớp bức xạ positron (PET) để hiểu rõ hơn bộ não cũng như phần vỏ não trước trán của những thanh niên 20 tuổi tham gia cuộc thử nghiệm.

Laurence Steinberg - giáo sư tâm lý học thuộc ĐH Temple cho biết: "Khi chúng ta khoảng 15 - 16 tuổi, nhiều tế bào trong não chết đi nhưng song song với đó, vô số tế bào thần kinh não khác được sinh ra. Rất nhiều khả năng nhận thức cơ bản, nâng cao lý luận, tư duy trừu tượng, tự ý thức nhanh chóng được mở rộng trong thời gian này. Các kết nối thần kinh quy định cảm xúc và kiểm soát xung động có thể được định hình vào giữa tuổi 20".


 Nguyên nhân tâm lý khiến tuổi



Nghiên cứu của ông Laurence Steinberg cũng chỉ ra mạch phần thưởng trong não của các thanh thiếu niên được kích hoạt nhiều hơn người trưởng thành và lớn tuổi. Những tín hiệu này thúc đẩy các bạn trẻ luôn thử tìm kiếm nhiều điều thú vị, chinh phục cảm giác mạnh ở tuổi thiếu niên.

Những mạch phần thưởng này bao gồm tế bào thần kinh dopamine chứa trong vỏ não trước trán và vùng sâu hơn của não bộ, chẳng hạn như nhân não, hạt hạnh nhân.

Vùng nhân não có tên là Nucleus Accumbens là khu vực tạo ra những xung thần kinh khiến ta có cảm giác dễ chịu khi được thỏa mãn.


 Nguyên nhân tâm lý khiến tuổi



Bởi vậy mà nhiều thanh thiếu niên luôn cố gắng gây ấn tượng với mọi người xung quanh bằng cách thể hiện sự liều lĩnh của mình và cảm thấy thích thú, thỏa mãn khi được nhiều người cổ vũ.

Theo nghiên cứu của Steinberg, thanh thiếu niên thường xuyên làm những điều mà bạn bè thách thức mà không quan tâm đến việc nhận thức điều đó đúng hay sai. Tuy nhiên, sự điên rồ, bốc đồng này của các bạn trẻ không kéo dài mãi. Sở dĩ Steinberg nói như vậy là bởi ông tìm thấy có sự khác biệt trong hình ảnh quét não của của thanh thiếu niên với người trưởng thành.


 Nguyên nhân tâm lý khiến tuổi



Theo đó, não người trưởng thành được thiết kế tốt hơn để phát hiện ra sai sót trong việc đưa ra quyết định. Khi họ thực hiện một công việc cần đến sự nhanh nhạy, não sẽ gửi đi một tín hiệu nếu phát hiện ra sai lầm ở đó.

Các chuyên gia kết luận, các bậc cha mẹ đừng quá lo lắng khi những đứa con của mình trở nên bốc đồng, liều lĩnh khi chúng ở tuổi dậy thì. Mức độ này sẽ giảm dần trong tương lai khi các thanh thiếu niên lớn hơn và bước vào tuổi trưởng thành.

(Nguồn: The Guardian)

Thiết bị công nghệ ảnh hưởng như thế nào tới mắt bạn?


Bạn đã dành phần lớn thời gian trong ngày để nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, thậm chí tới tối lại đến lượt tablet hoặc smartphone.

Bạn đã dành phần lớn thời gian trong ngày để nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, thậm chí tới tối lại đến lượt tablet hoặc smartphone. Những màn hình kỹ thuật số này sẽ gây hại như thế nào với đôi mắt của bạn? Câu trả lời sẽ có trong bài viết dưới đây, mời độc giả cùng theo dõi.


Thiết bị công nghệ ảnh hưởng như thế nào tới mắt của bạn?


Màn hình kỹ thuật số của máy tính, smartphone và tablet sẽ gây ra rất nhiều rắc rối cho bạn, từ đau mắt, mờ mắt tới nhức đầu. Tất cả những ảnh hưởng trên được các bác sĩ liệt kê chung vào một nhóm với tên gọi "hội chứng thị lực máy tính (CVS)". Có rất nhiều nguyên nhân gây ra CVS, từ dùng sai kính đọc sách tới màn hình quá sáng. Nhưng hầu hết các triệu chứng đều xuất phát từ hai vấn đề gốc, một là đôi mắt bạn đã bị sấy khô và hai là nó đã quá mệt mỏi.

"Có những cơ nhỏ bên trong nhãn cầu của bạn, chúng thay đổi hình dạng ống kính của mắt để đưa những thứ bạn đang nhìn vào tiêu điểm", Tiến sĩ Joshua Dunaief, Đại học Pennsylvania cho biết. Sau nhiều giờ ngồi trước màn hình máy tính, các cơ này sẽ bị mỏi vì phải tập trung vào một điểm cố định duy nhất. "Khi các cơ bị mỏi, đôi mắt của bạn sẽ không còn khả năng tập trung". Dunaief cũng cho biết, nghiên cứu chỉ ra rằng khi đọc sách hay làm việc trực tuyến con người thường chớp mắt ít hơn. Điều này dẫn tới hiện tượng khô mắt, chảy nước mắt hay cảm giác bỏng rát.

Những vấn đề này có thể biến mất trong vòng vài giờ nếu bạn ngừng nhìn vào màn hình máy tính. Tuy nhiên, có những nguy hiểm tiềm ẩn nếu bạn làm việc trong thời gian dài với màn hình kỹ thuật số. "Có những bằng chứng cho thấy, ánh sáng quá sáng sẽ làm hỏng võng mạc của bạn, tới mức không thể phục hồi. Nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính có độ sáng cao có thể gây hại cho đôi mắt", Dunaief cho biết.


Thiết bị công nghệ ảnh hưởng như thế nào tới mắt của bạn?


Ngồi quá gần màn hình máy tính (hoặc cầm smartphone quá gần với khuôn mặt) có thể gây ra một số vấn đề về tầm nhìn, Tiến sĩ Joan Portello, Đại học New York of Optonmetry cho biết. "Rất nhiều người không nhận ra điều này, nhưng đôi mắt bạn sẽ phải làm việc vất vả hơn khi bạn quan sát điều gì đó quá gần".

Vậy chúng ta cần làm gì để bảo vệ thị lực? Đầu tiên và quan trọng nhất là bạn phải sử dụng đúng loại kính. "Bạn không nên dùng kính đọc sách để sử dụng máy tính". Bạn nên để màn hình máy tính, smartphone, tablet ở mức sáng trung bình và ở khoảng cách xa giúp đôi mắt bạn thoải mái hơn khi quan sát. Tăng kích cỡ font chữ, đóng rèm và giảm độ sáng của đèn trong văn phòng để ngăn ánh sáng chói cũng giúp bạn giữ được đôi mắt khỏe mạnh.

Thuốc nhỏ mắt dạng nước hoặc nước mắt nhân tạo cũng giúp đỡ được rất nhiều cho những người mắc chứng khô mắt. Ngoài ra, bạn cũng nên gắn bó với quy tắc 20-20-20. "Sau 20 phút sử dụng hãy rời mắt khỏi màn hình máy tính và quan sát vật gì đó ở khoảng cách 20 mét trong 20 giây". Điều này giúp cơ mắt của bạn có thể nghỉ ngơi, tránh mệt mỏi và căng thẳng. Bạn nên tập trung vào một điểm ở càng xa càng tốt, và trong lúc đang nhìn xa hãy cố gắng chớp mắt nhiều lần để giữ đôi mắt của bạn không bị khô.

Top 10 câu chuyện khoa học kì quái nhất (Phần 1)

 Trong lịch sử đã có rất nhiều thí nghiệm được thực hiện nhưng không đem lại thành công, nhiều thí nghiệm đã không đạt được kết quả như các nhà khoa học mong đợi, đôi khi mang lại những kết quả xa lạ so với những gì họ tưởng tượng.

Dưới đây là một số thí nghiệm kì lạ nhất trong các thí nghiệm đã được ghi lại (và một số trường hợp cũng chưa được ghi lại) trong lịch sử.

1. CIA tạo ra kẻ giết người hàng loạt


Top 10 câu chuyện khoa học kì quái nhất (Phần 1)



Unabomber (kẻ giết người hàng loạt) là Ted Kaczynski-một người đàn ông hiện đang phải thụ án tù chung thân vì giết chết 3 người và làm thương 23 người khác sau một loạt vụ đánh bom của mình. Trước đó, Kaczynski được biết đến với tài năng đáng kinh ngạc.

Khi còn là một đứa trẻ, Kaczynski bỏ qua lớp 6 và lớp 11 và bắt đầu nghiên cứu tại Đại học Harvard khi chỉ mới 16 tuổi. Khi còn nhỏ, ông thường xuyên bị bắt nạt do thiếu kĩ năng xã hội. Tuy vậy, sau này các đồng nghiệp đã sớm nhận ra trí thông minh toán học khác thường của ông. Kaczynski đã tham gia một thí nghiệm tâm lý do CIA thực hiện trong dự án kỹ thuật hành vi MKUltra. Nghiên cứu này do Tiến sĩ Henry Murray thực hiện. Tiến sĩ đã yêu cầu 22 người tham gia thí nghiệm viết một bài luận chi tiết về những ước mơ và nguyện vọng của họ. Các sinh viên sau đó đã được đưa tới một căn phòng được gắn các điện cực theo dõi hành vi, tại đó họ phải chịu những lời phê phán và chỉ trích nặng nề về bài luận họ đã viết.

Sau khi bị tác động tâm lý, những người tham gia bị buộc phải xem các đoạn video của mình, những video đó đã tác động mạnh vào tâm lý. Kaczynski là người có phản ứng tâm lý tồi tệ nhất và được tham gia thẩm vấn. Những thí nghiệm này kết hớp với sự thiếu kỹ năng xã hội và những kí ức bị bắt nạt thời thơ ấu đã khiến Kaczynski gặp những cơn ác mộng khủng khiếp. Cuối cùng, ông đã bị cách ly bên ngoài Lincoln, Montana.

Ở Lincoln, Kaczynski xây dựng cabin riêng của mình và bắt đầu một cuộc sống đơn giản, không có điện cũng như nước máy. Ông tự cung cấp mọi thứ cho cuộc sống của mình và tạo ra các công nghệ thô sơ bằng tay. Ông nhận ra công việc của mình bị giới hạn bởi sự phát triển và nền công nghiệp đã hủy hoại môi trường xung quanh. Sau khi địa điểm ưa thích của ông trong một khu vực hoang dã bị nền công nghiệp hóa phá hủy, Kaczynski đã có những thay đổi đáng kể tác động đến cuộc đời mình.

Ted bắt đầu tin rằng công nghệ chính là cái ác và do đó những người thúc đẩy nó phát triển cũng là những kẻ ác. Nhiều người cho rằng tham gia cuộc thí nghiệm nghiên cứu tại Harvard đã có những ảnh hưởng nặng nề đến Kaczynski dẫn đến kết quả là ông  đã gửi bom thư tới nhiều cơ sở, trong đó có các sân bay và các trường đại học, những địa điểm dễ gây được sự chú ý của công chúng. Sau 18 năm khủng bố những người mà ông tin rằng đã thúc đẩy phát triển công nghệ, phá hủy thế giới, Kaczynski đã trở thành mục tiêu truy lùng của FBI.Vào năm 1995, Kaczynski yêu cầu báo chí xuất bản tuyên ngôn dài 50 trang được gọi là “Hiệp hội công nghiệp và tương lai của nó” của ông. Cuối cùng, ông trở nên nổi tiếng như là Unabomber khi giết chết 3 người và gây thương tích đến 23 trong hơn 18 năm suy sụp tinh thần của mình

2. CIA tạo ra chứng rối loạn tâm thần cho cả thị trấn


Top 10 câu chuyện khoa học kì quái nhất (Phần 1)



Thị trấn Pont-Saint Esprit ở Pháp không chỉ được biết đến với nhiều ổ dịch và còn sự lan rộng của bệnh rối loạn tâm thần vào ngày 15, tháng 8 năm 1951. Nhiều người tin rằng sự bùng nổ này (hơn 500 người) là kết quả một thí nghiệm được thực hiện bởi một chương trình của CIA.

Một báo cáo năm 1949 được cho là có liên quan đến những thí nghiệm của Mỹ với các thuốc mới được phát hiện, thuốc LSD. Những ảo giác từ loại thuốc này khiến người ta tin rằng mình bị rắn ăn thịt, một số người lại nhảy ra khỏi cửa sổ vì họ nghĩ đấy là máy bay. Vào thời điểm đó, Mỹ tin rằng có thể khai thác sức mạnh của loại thuốc LSD gây ảo giác với kẻ thủ, gây tổn thương khả năng của họ nhằm thực hiện các cuộc tấn công.

Sự cuồng loạn này cuối cùng cũng kết thúc với 5 người chết và ít nhất 2 người đã tự tử mà không có một lời giải thích rõ ràng nào. Sự ảo giác phổ biến ở loài nấm cựa gà độc do công ty hóa chất Sandoz gần Pont-Saint Esprit sản xuất. Người ta cho rằng, các công ty hóa chất đã cộng tác cùng CIA để sản xuất một khối lượng lớn LSD cho thí nghiệm của họ.

Cho đến nay, các ổ dịch gây ảo giác lớn đã xảy ra ở thị trấn nhỏ này của Pháp hiện vẫn chưa có câu trả lời.

3. Hedy Lamarr- Vẻ đẹp và trí tuệ


Top 10 câu chuyện khoa học kì quái nhất (Phần 1)



Hedy Lamarr là một diễn viên nổi tiếng bởi vẻ đẹp sắc sảo trên màn bạc trong suốt thời kì hoàng kim của MGM, nhưng ít ai biết rằng, vẻ đẹp của bà không chỉ ở nhan sắc mà còn ở trí thông minh tột đỉnh.

Ở những năm 1940, khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp diễn xuất, Lamarr đã hợp tác với George Antheil với ý tưởng tạo ra một hệ thống thông tin liên lạc bí mật. Lamarr thực sự là một thiên tài toán học, với sự giúp đỡ của Antheil, bà đã tạo ra phiên bản đầu của tần số hopping và xin cấp bằng sáng chế. Bà hy vọng phát minh của mình có thể được sử dụng trong quân đội.

Với ý tưởng tần số hopping này bà đã phát triển bằng cách sử dụng một phím đàn piano để thay đổi giữa 88 tần số. Cuối cùng, sáng chế của bà cũng được Hải quân sử dụng vào năm 1962. Ngày nay, phát minh của bà đã được sử dụng rộng rãi là cơ sở phát minh Bluetooth và wifi. Tuy nhiên, bà chỉ nhận được một số tiền ít ỏi cho ý tưởng tuyệt vời vào năm 1997.

4. Bài hát “tự tử”


Top 10 câu chuyện khoa học kì quái nhất (Phần 1)



Có khi nào nghe một bài hát buồn da diết mà bạn bỗng muốn tự tử? Bài hát Gloomy Sunday do Rezso Seress sáng tác vào năm 1933 có thể khiến bạn có ý định tự tử khi nghe. Laszlo Javor đã viết lời bài hát và nó được Pal Kalmar thu âm lần đầu tiên vào năm 1935.

Trong khi bài hát đang được viết thì Hoa Kỳ rơi vào sự kìm kẹp của cuộc đại suy thoái với chính quyền phát xít lên nắm quyền tại đất nước Hungary của Secress. Lời bài hát của Laszlo Javor phản ánh sự mất mát niềm tin của ông vào con người và những điều bất công. Bài hát là một lời cầu nguyện buồn với Chúa mong Ngài thương xót cho những người xấu số trên thế giới, đó là lý do Secress đã gặp khó khăn để tìm nhà xuất bản bài hát đó. Laszlo Javor vưa chia tay với vị hôn thê và sau đó công bố bài hát với giai điệu và âm nhạc buồn da diết. Có đến 19 vụ tự tử ở Hungary và Hoa Kỳ đều liên quan đến bài hát theo cách này hay cách khác, trong đó có cả lần tự tử hụt của Seress khi muốn ném mình qua cửa sổ (tuy nhiên sau đó ông cũng qua đời khi thắt cổ bằng một sợi dây trong bệnh viện).

Bài hát u sầu đã bị cấm tại Hungary (và Mỹ). Đài phát thanh phát bài hát sẽ làm giảm tinh thần chiến đấu trong chiến tranh. Có một mối liên hệ giữa các trường hợp tử vong bao gồm tự tử ngay sau khi nghe bài hát, lời bài hát trong các ghi chú tự tử, cũng có xác chết cầm tờ ​​nhạc, hay bài hát đang được chạy trên máy nghe nhạc của họ.

5. Quy tắc  Haber


Top 10 câu chuyện khoa học kì quái nhất (Phần 1)



Hầu hết mọi người đều biết tới Fritz Haber khi ông đoạt giải Nobel về amoniac tổng hợp cho phân bón, vật liệu nổ, nhưng ít người biêt về viêc làm độc ác của ông cho quân đội Đức trong Thế chiến I. Các nhà khoa học thời đó xem cuộc chiến tranh thế giới không chỉ là cuộc chiến tranh giữa các quốc gia mà còn là cuộc chiến giữa các nhà khoa học. Haber còn được biết đến là “cha đẻ của chiến tranh hóa học”, ông đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển vũ khí hóa học. Haber đã có thể phát triển loại khí clo gây chết người do mật độ của nó, nó sẽ được thả trong chiến hào của kẻ thù, gây ngạt thở và đốt họ đến chết. Ông cũng phát hiện ra rằng thời gian tiếp xúc lâu với nồng độ thấp của loại khí chết người này có những tác động tương tự như khoảng thời gian ngắn tiếp xúc với nồng độ cao. Ông đã tính toán mối quan hệ giữa việc tiếp xúc với thời gian, thực hiện phương trình "Các quy tắc của Haber."

Haber hãnh diện khi phục vụ cho quân đội Đức và thậm chí còn được Kaiser thăng chức đội trưởng trong chiến tranh hóa học. Haber cho rằng chiến tranh khí đốt là nhân đạo.  Nhưng vợ ông, Clara Immerwahr (nhà hóa học nữ đầu tiên có bằng tiến sĩ tại Đại học Breslau), phản đối mạnh mẽ sự tham gia của ông trong chiến tranh khí đốt. Cuối cùng bà đã tự sát sau khi chứng kiến ​​những tác động kinh khủng của khí clo có trong trận Ypres.

Khi Thế chiến II bắt đầu, Đức quốc xã đã tiếp cận Haber, họ đã tài trợ cho ông để tiếp tục nghiên cứu vũ khí hóa học. Haber từ chối và trốn sang Cambridge, Anh với trợ lý của mình. Trong thời gian đó, người ta nói rằng Ernest Rutherford từ chối bắt tay với Haber vì những gì ông đã làm trong chiến tranh hóa học. Trong những năm 1920, các nhà nghiên cứu tại viện Haber tiếp tục phát triển nhiều hình thức của chiến tranh hóa học chết người bao gồm cả công thức xyanua Zyklon A, mà sau này được phát triển thành Zyklon B để phóng hơi ngạt tại trại tập trung của Đức Quốc xã.

Robot sử dụng công nghệ in 3D xây dựng nơi ở cho con người trên sao Hỏa

 NASA đang phát triển một dự án mới nhằm sử dụng các robot xây dựng bằng công nghệ in 3D để tạo nơi ở trên sao Hỏa trước khi con người đặt chân lên sống tại đây.

Nhằm chuẩn bị cho những chuyến thám hiểm sao Hỏa đầu tiên của các nhà du hành vũ trụNASAvà một công ty vũ trụ tư nhân đã lên kế hoạch xây dựng một căn cứ tại đây bằng các robot sử dụng công nghệ in 3D.

Đây là thành quả sau nhiều năm nghiên cứu do Behrokh Khoshnevis, kỹ sư NASA đến từ Đại học Nam California dẫn đầu nhằm tìm cách đưa các công nghệ từ Trái Đất lên Sao Hỏa, phục vụ cho sứ mạng chinh phục sao Hỏa của con người trong tương lai. Phương pháp in các tòa nhà do Khoshnevis đề xuất được gọi là "kỹ thuật đường viền". Về cơ bản, phương pháp này chỉ khác các kỹ thuật in 3D truyền thống ở chỗ là sử dụng các cỗ máy lớn hơn và sử dụng bê tông thay cho nguyên liệu plastic trước đây.


Robot sử dụng công nghệ in 3D xây dựng nơi ở cho con người trên sao Hỏa


Khi bắt đầu nghiên cứu, ý tưởng dùng robot in 3D không phải là vấn đề quá mới mẻ khi xây dựng các công trình trong không gian. Tuy nhiên, thử thách lớn nhất ở đây chính là nguồn nguyên liệu in (mực in). Hiện tại, các kỹ sư đã sở hữu nhiều công thức pha trộn bê tông khác nhau nhưng chủ yếu vẫn sử dụng cát, đá và dùng xi măng làm chất kết dính cùng với một vài phụ gia hóa chất hoặc vật liệu tái chế khác. Tuy nhiên, công thức này khó lòng có thể áp dụng đối với nguyên liệu trên sao Hỏa. Do đó, một công thức bê tông mới và cải tiến về kết cấu máy in 3D là công tác cần thiết để có thể "in" các tòa nhà trên hành tinh đỏ này.

Theo thăm dò từ trước đến nay, đất trên sao Hỏa chứa hàm lượng lưu huỳnh nhiều gấp 4 lần so với Trái Đất. Ngay cả khi tìm ra được phương pháp trộn bê tông khắc phục được vấn đề lưu huỳnh, cát trên sao Hỏa cũng thô hơn Trái Đất rất nhiều và có thể gây tắc nghẽn, cản trở quá trình in 3D. Cát trên Trái Đất đã bị nước và gió xói mòn từ hàng tỷ năm qua để tạo nên loại cát mịn như hiện tại. Ngược lại, cát trên sao Hỏa lại có kích thước lớn, thô và gần như chưa bao giờ trải qua xói mòn như cát ở bãi biển của Trái Đất.


Robot sử dụng công nghệ in 3D xây dựng nơi ở cho con người trên sao Hỏa


Dù vậy, việc xây dựng các công trình trên sao Hỏa cũng có một số thuận lợi nhất định. Đó là do môi trường gần như không có khí quyển, không chịu ảnh hưởng bởi thời tiết và lực hấp dẫn cũng yếu hơn nhiều so với Trái Đất. Do đó, các tòa nhà trên sao Hỏa sẽ không phải chịu áp lực của gió hoặc trọng lực làm giảm tuổi thọ của tổng thể cơ sở hạ tầng.

Theo kế hoạch, một số cấu trúc đầu tiên dành cho con người sẽ được xây dựng trên bề mặt sao Hỏa bao gồm kết cấu hạ cánh phi thuyền không gian, đường xá, tường chắn gió và tạo bóng râm, tường chống nhiệt, bảo vệ con người khỏi các thiên thạch nhỏ cũng như bụi trên sao Hỏa. NASA hy vọng rằng sẽ cải tiến và áp dụng các cỗ máy xây công trình đồng thời khắc phục được vấn đề tạo ra cát mịn để trộn bê tông không chỉ nhằm phục vụ xây dựng công trình trên sao Hỏa mà còn trên Mặt Trăng (cũng với khó khăn tươnng tự) trong tương lai.

Trong báo cáo mới nhất, NASA hiện vẫn chưa công bố thời gian chính xác khi nào sẽ đưa các robot in 3D lên bề mặt sao Hỏa hoặc Mặt Trăng để tạo cơ sở hạ tầng dành cho các phi hành gia tiên phong. Trong khi đó, chương trình Mars One hy vọng rằng sẽ bắt đầu hình thành một căn cứ vĩnh viễn trên sao Hỏa vào năm 2014 trong khi chương trình SpaceX dự kiến sẽ khởi động vào năm 2026. Dù một số ý kiến tỏ ra nghi ngờ về tính khả thi của các thời hạn trên, tuy nhiên, NASA dĩ nhiên sẽ thực hiện nhiều nghiên cứu và sẽ sớm có kết quả khả quan trong tương lai không xa.