Thứ Tư, ngày 22 tháng 10 năm 2014

Khoa học đưa ra cách "tẩy não" mới

Các nhà khoa học cố gắng tìm ra cách giúp bộ não thoát khỏi tình trạng sợ hãi, ám ảnh bởi ký ức đau buồn.

Có một sự thật rằng, không phải kỷ niệm nào cũng đẹp, có những ký ức khiến cho chúng ta sợ hãi, ám ảnh và muốn quên đi. Bởi vậy, các nhà khoa học cố gắng nghiên cứu tìm ra phương pháp điều trị y tế cho bộ não hiệu quả nhất để giúp người bệnh đặc biệt là những người mắc chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) thoát ra khỏi ký ức buồn.
Khoa học đưa ra cách
 

Các chuyên gia thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) đã bước đầu tìm ra được một vài nhân tố mới giúp ích cho công trình nghiên cứu này. Đó là làm thế nào tế bào thần kinh của não bộ mã hóa bộ nhớ, lấp ký ức xưa cũ. Tiến hành nghiên cứu trên chuột, các nhà khoa học nhận thấy, những kỷ niệm cá nhân ở chuột được lưu lại trong khu vực vùng hải mã hippocampus của não.
Đầu tiên, họ biến đổi gene một con chuột để khi các tế bào vùng đồi thị của nó được kích hoạt, họ sẽ gắn thêm một protein vào cơ thể để có thể nghiên cứu chuyển đổi về sau. Sau đó, họ nhốt con chuột trong chiếc lồng quen thuộc. Ngày hôm sau, họ đưa nó tới một chiếc lồng khác có mùi hương và bức tường màu đen.
Khoa học đưa ra cách "tẩy não" mới 2

Chọn thời điểm bất kì và các nhà khoa học tạo ra một cú sốc lớn với chuột đồng thời gắn protein mới để kích hoạt tế bào não. Cuối cùng, họ đưa chuột trở lại về lồng cũ và theo dõi.
Hẳn nhiên, con chuột này khi trở lại lồng cũ đã có chút ngạc nhiên về "ngôi nhà" này, có cảm giác như nó thấy lạ lẫm với mọi thứ xung quanh. Nói một cách đơn giản, các nhà khoa học đã tạo ra một bộ nhớ mới cho con chuột này.
Trước đó, các nhà khoa học thuộc ĐH Washington (Mỹ) đã tìm thấy hợp chất hóa học có thể được sử dụng để phục hồi hoặc thậm chí xóa những ký ức ở chuột (và có thể một ngày nào đó dùng được ở người).
Khoa học đưa ra cách
 

Cùng với đó, nghiên cứu của ĐH Emory (Mỹ) cũng tìm ra SR-8993 - loại thuốc sẽ tác dụng đến thụ thể opioid của não, có khả năng ngăn chặn bộ nhớ với ký ức sợ hãi hình thành hay như Latrunculin A có tác dụng xóa ký ức một ngày sau đó.
Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng, dù là loại thuốc gì thì khi ảnh hưởng đến não, chúng cũng gây ra một tác dụng phụ khá nghiêm trọng. Nhưng dù sao, họ vẫn tiếp tục nghiên cứu để mong có thể giúp được phần nào hàng triệu người đang bị dày vò bởi sự ám ảnh, những ký ức sợ hãi thực sự.
(Nguồn tham khảo: Business Insider)

10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được

10 câu hỏi mà nhiều người đã từng thắc mắc từ khi còn là một đứa trẻ - nhưng liệu tất cả chúng ta đều đã biết câu trả lời?

Chính phủ Mỹ dành ra khoảng 60 tỷ đô trong ngân sách mỗi năm để đầu tư vào các dự án nghiên cứu và phát triển khoa học. Giáo dục trong các trường đại học tốt đến mức, đây là điểm đến mơ ước cho rất nhiều bạn trẻ trên thế giới, đồng thời cũng là nơi quy tụ những tài năng lỗi lạc bậc nhất. Đứng đầu về cả cơ sở hạ tầng lẫn nguồn nhân lực, hẳn bạn sẽ nghĩ rằng dân Mỹ ai cũng nắm rõ khoa học như lòng bàn tay?
10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được
 

Bạn đã sai. Những hiểu biết về khoa học cơ bản của người dân Mỹ là một sự xấu hổ cho khoản tiền khổng lồ mà họ bỏ ra hàng năm. Đây là kết quả của một đánh giá sơ bộ được tiến hành vào năm 2009: Chỉ 53% số người tham gia biết rằng Trái đất cần 1 năm để quay xung quanh mặt trời, 59% biết được khủng long và con người không hề sống cùng thời đại như trong phim hoạt hình “Flintstone”. Chỉ 47% khẳng định rằng 70% bề mặt trái đất bao phủ bởi nước, và chỉ 20% trả lời đúng cả 3 câu hỏi trên.
10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được
 

Chưa rõ những thống kê trên sẽ thay đổi như thế nào nếu tiến hành ở Việt Nam. Khoa học là một con đường dài bất tận với hàng nghìn lối rẽ, rõ ràng, bạn không thể trở thành một nhà khoa học chỉ trong một vài ngày. Nhưng nếu bạn cảm thấy vô cùng chán nản mỗi khi nhìn thấy những lỗ đen, hạt Higgs, thuyết tiến hóa, những hidro, oxy xuất hiện trên chương trình “Ai là triệu phú” hay trong cuộc chuyện phiếm thường nhật ở quán trà đá trước cổng trường – hãy đọc tiếp. Chúng tôi sẽ giúp bạn có được cái nhìn khái quát thông qua 10 câu hỏi cơ bản mà ai cũng phải biết cách trả lời.
10. Tại sao bầu trời có màu xanh?
Câu hỏi được lặp đi lặp lại quá thường xuyên từ những đứa trẻ, nhưng không phải ai cũng biết câu trả lời. Nếu bạn cũng không biết, xin đừng vội trút giận lên đầu chúng.
Bầu trời có màu xanh bởi một hiệu ứng vật lý rất quen thuộc  - sự tán xạ. Ánh sáng mặt trời phải đi qua bầu khí quyển của Trái đất, nơi có rất nhiều tầng khí và vật chất, đóng vai trò như một bộ lọc và giúp “rải” ánh sáng đi nhiều nơi.
10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được
 

Nếu đã từng nhìn thấy một viên kim cương lấp lánh nhiều màu, hẳn bạn cũng sẽ biết rằng ánh sáng, thực chất được tạo nên từ rất nhiều màu khác nhau, mỗi màu có một bước sóng khác nhau. Trong khi đó, ánh sáng xanh có bước sóng ngắn hơn, do đó, nó có thể đi qua “bộ lọc” dễ dàng hơn, và từ đó được tán xạ rộng hơn mỗi khi đi qua bầu khí quyển.
Mỗi khi hoàng hôn và bình minh, ánh sáng mặt trời sẽ phải chu du qua một chặng đường dài hơn để đến được mắt bạn – điều này đã loại bỏ hoàn toàn lợi thế của ánh sáng xanh, và cho phép chúng ta nhìn thấy những màu khác, đây là lý do tại sao bạn nhìn thấy những màu đỏ, vàng, cam.
9. Trái đất bao nhiêu tuổi?
Sự tồn tại của Trái đất đã được đem ra tranh cãi từ rất lâu. Từ năm 1654, một học giả có tên John Lightfoot, dựa trên Kinh Cựu ước, đã cho rằng, Trái đất ra đời chính xác vào thời điểm 9h sáng ngày 26 tháng 10 năm 4004 trước Công nguyên (theo múi giờ vùng Lưỡng Hà). Sau đó khoảng nửa thế kỷ, một nhà khoa học có tên Comte de Buffon, dựa vào thí nghiệm đun nóng một bản sao nhỏ của Trái đất (một mô hình do ông tự thiết kế), từ những tính toán về tốc độ tự làm mát, ông đã ước tính tuổi thọ Trái đất là vào khoảng 75.000 năm. Đến thế kỷ 19, nhà vật lý học Lord Kelvin sử dụng các phương pháp tính toán khác để cho ra con số từ 20 đến 40 triệu năm.
10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được
 

Chỉ đến cuối những năm cuối thế kỷ 19, khi vật lý phóng xạ ra đời, những giả thuyết trên mới hoàn toàn bị bác bỏ. Bằng những kiến thức mới về tốc độ phân rã của vật chất, bằng cách phân tích những mẫu đá trên Trái đất và so sánh với những mẫu đá trên mặt trăng, cuối cùng, giới khoa học đã tìm ra phương thức xác định tuổi thọ Trái đất. Dựa vào tình trạng phân rã của các đồng vị phóng xạ trên các mẫu đá, họ so sánh chúng với một thang chuẩn cho phép xác định sự thay đổi của đồng phân đó trong từng khoảng thời gian. Từ đó, họ khẳng định chắc chắn rằng Trái đất đã được hình thành vào khoảng 4.54 tỷ năm trước đây, với sai lệch nhỏ hơn 1%.
8. Chọn lọc tự nhiên là gì?
Sự ra đời của thuyết tiến hóa của Darwin vào khoảng giữa thế kỷ 19 thực sự là một cơn địa chấn mạnh, không chỉ tác động lên khoa học. Không nhiều người vào thời điểm đó, đặc biệt là các tín đồ của nhà thờ chịu chấp nhận 1 giả thuyết cho rằng, loài người chẳng qua chỉ là hậu duệ của những loài vật thấp kém.
Trung tâm của thuyết tiến hóa chính là quan điểm chọn lọc tự nhiên. Thực sự nó không hề khó hiểu như bạn nghĩ (nếu chẳng may bạn có những ký ức tệ hại về môn Sinh học thời phổ thông). Trong tự nhiên, đột biến, một thay đổi trong bộ máy di truyền, chính là điểm làm loài vật có những đặc điểm khác với tổ tiên của chúng. Con người không nằm ngoài quy luật này. Những đột biến này chính là nguyên nhân làm mọi sinh vật biến đổi qua một quãng thời gian dài vô tận.
10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được
 

Thức ăn, bạn tình, chỗ ở - đây chính là những yếu tố “chọn lọc” ra những loài vật thích hợp. Chỉ khi nào bạn khỏe hơn, nhanh hơn, sinh sản tốt hơn, bạn mới có cơ may vượt lên trên những đối thủ khác để sống sót và duy trì nòi giống của mình.
Lấy ví dụ, một con sâu vốn có màu xanh, nhưng một đột biến làm nó thay đổi thành màu nâu. Màu này, ngẫu nhiên, lại làm nó ẩn mình tốt hơn so với những đồng loại màu xanh, do đó, giúp nó tránh khỏi tai họa từ các loài chim. Loài sâu đột biến này, cùng với những hậu duệ của nó, sẽ có khả năng tồn tại tốt hơn, và qua nhiều thế hệ, chúng sẽ trở nên phổ biến.
Đây chỉ đơn thuần là một ví dụ. Trên thực tế, chọn lọc tự nhiên được tiến hành trên cả một quần thể rộng chứ không đơn thuần là chỉ một cá thể hay một loài sinh vật nào đó. Và nó cũng không hề đơn giản, êm đềm và trật tự như ví dụ nêu trên.
7. Mặt trời có bao giờ ngừng chiếu sáng?
Trong single ra đời vào năm 1962, ca sỹ Skeeter Davis đã luôn thắc mắc rằng, tại sao mặt trời luôn chiếu sáng sau khi bị người tình đá bay một cách không thương tiếc. Câu trả lời có lẽ không được lãng mạn như vậy.
Mặt trời, giống như bất kỳ một lò nung nào khác, sẽ tắt lịm khi “hết xăng”. Nguồn năng lượng chính của nó là lượng hydro khổng lồ tồn tại ở tâm mặt trời, và khi nguồn năng lượng này cạn kiệt, nó sẽ sử dụng đến lượng hydro ở lớp bề mặt. Đó cũng chính là lúc mặt trời không còn đáng yêu như bài hát ở trên nữa. Nó sẽ trở thành một ngôi sao lùn trắng lớn dần và nuốt chửng tất cả các hành tinh trong hệ Mặt Trời tất nhiên, Trái đất cũng không phải là ngoại lệ.
10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được
 

6. Nam châm hoạt động như thế nào?
Thêm một câu hỏi mà rất nhiều bạn đọc hẳn đã từng thắc mắc khi còn là một đứa trẻ. Bạn vô tình nhặt được một cục nam châm, hoặc bạn từng chứng kiến cảnh giáo sư Magneto bộc lộ quyền năng vô tận của mình trong bộ phim X-men, nhưng liệu bạn đã tìm thấy câu trả lời?
Đó chính là từ trường, một khái niệm quen thuộc trong vật lý. Nó thực chất là một đám electron quay theo cùng một hướng. Electron luôn thích đi cùng nhau thành một cặp, do đó, hãy hình dung từ trường như một tập hợp những gã FA luôn khao khát có ngày thoát ế, trong khi đó, sắt lại chứa rất nhiều các em gái electron còn đang cô độc. Dễ hiểu tại sao chúng lại có sức hút với nhau đến vậy.
10 Câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được
 

Nam châm có đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người. Bạn cũng đã vài lần chứng kiến sự có mặt của chúng thông qua chiếc la bàn trên tay những tên hải tặc khét tiếng trong series “Pirates of Caribean”. Và bạn cũng có thể tự tạo ra cho mình một chiếc nam châm, đơn giản chỉ bằng cách cuộn 1 cuộn dây dẫn xung quanh một mảnh thép, sau đó nối 2 đầu dây vào 2 điện cực của một chiếc ắc-quy.
5. Cầu vồng được tạo thành như thế nào?
Đây là nguồn cảm hứng bất tận cho trí tưởng tượng của loài người. Trong Kinh Cựu ước, Chúa đã tạo ra cầu vồng sau trận Đại hồng thủy và nói với Noah rằng, “Đây chính là sự liên hệ của ta với Trái đất”. Người Hy Lạp cổ đại thậm chí còn đi xa hơn, họ cho rằng cầu vồng chính là một nữ thần mang tên Iris. Qua nhiều thế kỷ, rất nhiều bộ óc lỗi lạc, từ Aristotle cho đến Descarte đều tìm cách lý giải nguyên nhân của hiện tượng này.
Về cơ bản, cầu vồng được tạo ra bởi các giọt nước treo lơ lửng trên bầu khí quyển sau một trận mưa. Những giọt nước này có tỷ trọng khác biệt so với lớp không khí xung quanh chúng, do đó, khi ánh sáng mặt trời chiếu đến, chúng trở thành các lăng kính mini, “bẻ cong” ánh sáng và biến nó thành nhiều bước sóng khác nhau, và cuối cùng, phản chiếu tất cả về mắt của chúng ta.
10 câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được (Phần 2)
 

Kết quả của hiện tượng trên là một cánh cung huyền ảo với đủ mọi màu sắc. Và bởi những giọt nước PHẢN CHIẾU ánh sáng mặt trời, nên để nhìn thấy cầu vồng, chúng ta phải QUAY LƯNG về phía mặt trời. Chúng ta cũng cần quan sát với một góc độ chính xác vào khoảng 40 độ - góc mà các giọt nước bẻ cong ánh sáng. Nếu bạn có may mắn được quan sát hiện tượng này từ trên cao (ví dụ như trên máy bay), bạn sẽ thấy nó có dạng gần như chiếc đĩa hơn là một hình cầu.
4. Thuyết tương đối là gì?
Khi một ai đó nhắc đến thuyết tương đối, thực chất họ đang nhắc đến 2 thuyết riêng biệt: Thuyết tương đối rộng và thuyết tương đối hẹp. Einstein và công trình đồ sộ của ông đã trở nên quá nổi tiếng, nhưng không phải ai cũng biết về nội dung của những lý thuyết này. Einstein đã lý giải chúng qua một ví dụ khá hóm hỉnh: “Khi bạn ngồi cùng một cô gái xinh đẹp trong một giờ đồng hồ, nó trôi qua chỉ như một phút. Nhưng khi bạn ngồi trên một đống than nóng rực trong một phút, nó sẽ lâu hơn cả vài giờ. Đó chính là thuyết tương đối.”
Câu trích dẫn trên đã tóm lược mọi thứ một cách khá hoàn hảo, tuy nhiên, chi tiết có vẻ sẽ rắc rối hơn 1 chút. Trước thời Einstein, mọi người đều tin rằng thời gian và không gian là những yếu tố bất biến – chúng không bao giờ thay đổi, bởi vì đó là cách chúng ta nhìn không gian và thời gian từ góc nhìn cố định trên Trái đất. Nhưng Einstein, bằng các phương pháp toán học, đã chứng minh rằng quan niệm trên là hoàn toàn sai lầm. Thay vào đó, ông cho rằng không gian và thời gian đều có sự thay đổi – không gian có thể co lại, giãn nở, bị uốn cong; thời gian có thể chậm lại hoặc trôi nhanh hơn.
10 câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được (Phần 2)
 

Việc thời gian và không gian thay đổi ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào góc nhìn của chúng ta. Nếu bạn đeo một chiếc đồng hồ, nhảy lên 1 chiếc máy bay và bay 1 vòng quanh Trái đất với tốc độ siêu âm, bạn sẽ quan sát thấy kim đồng hồ quay chậm hơn rất nhiều so với khi bạn đứng yên trên mặt đất. Đó là hiện tượng có tên gọi “giãn nở thời gian”. Thời gian và không gian, thực chất là một thực thể thống nhất, nó hoàn toàn có thể bị “làm nhiễu” bởi các lực mạnh như lực hấp dẫn hay gia tốc. Bởi vậy, khi một vật, hoặc di chuyển rất nhanh, hoặc bị tác động bởi lực hấp dẫn vô cùng lớn, thời gian tương đối đối với vật đó sẽ chậm lại.
Hệ thống định vị toàn cầu – GPS, là một minh chứng sống động của thuyết tương đối. Các vệ tinh của chúng quay xung quanh trái đất với tốc độ 14.000 km/h, và nếu các kỹ sư không chỉnh đồng hồ của họ theo các nguyên lý của thuyết tương đối, trong một ngày, Google Map trên chiếc Smart Phone của bạn sẽ bị sai lệch vị trí khoảng 10km.
3. Tại sao bong bóng có hình tròn?
Thực ra, bong bóng không phải lúc nào cũng có hình tròn. Bạn có thể tạo ra đủ mọi hình dạng với chúng – nhưng chúng sẽ luôn CÓ XU HƯỚNG quay trở lại dạng hình tròn. Điều này xảy ra bởi các bong bóng, thực chất là các lớp chất lỏng mỏng, chứa những phân tử luôn gắn kết với nhau – một hiện tượng với tên gọi là sự liên kết. Chính điều này đã tạo ra sức căng bề mặt – một hàng rào ngăn cản các vật thể cố gắng vượt qua nó.
10 câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được (Phần 2)
 

Bên trong hàng rào này, không khí bị “nhốt” lại và không thể thoát ra ngoài, mặc dù vậy, chúng vẫn luôn tạo ra một lực đẩy lên các lớp chất lỏng. Nhưng đó không phải là lực duy nhất tác dụng lên hàng rào này. Ở bên ngoài, thậm chí còn nhiều không khí hơn đẩy ngược hàng rào vào trong. Cách tốt nhất để các lớp chất lỏng kháng cự lại các lực trên là tạo ra một hình dạng chắc chắn nhất – đó chính là hình tròn, trên quan điểm tuân theo tỷ lệ thể tích/diện tích bề mặt.
2. Mây sinh ra từ đâu?
Không phải suối tóc bồng bềnh của một nữ thần, càng không phải bóng dáng của một lâu đài kem trên bầu trời. Mây là một khối hữu hình chứa các giọt nước, hoặc các tinh thể băng, hoặc pha trộn cả hai, được hình thành ở bên trên bề mặt Trái đất. Mây được tạo ra khi khí nóng bốc lên. Càng lên cao, chúng sẽ càng được làm mát, và khi đã lên đủ cao, nước từ dạng hơi sẽ được ngưng tụ trở về dạng giọt hoặc dạng băng, tùy vào việc nó được làm mát đến đâu. Các dạng tinh thể và dạng giọt này sẽ dính lấy nhau trên quan điểm của thuyết liên kết (đã được nói đến ở trên) – và đó là cách mây ra đời. Một vài đám mây trông có vẻ dày hơn số khác, đó là bởi chúng có tỷ trọng cao hơn, tập trung nhiều giọt/tinh thể nước hơn.
10 câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được (Phần 2)
 

Mây là một phần quan trọng trong vòng tuần hoàn nước trên Trái đất, trong đó, nước liên tục qua lại giữa bề mặt và bầu khí quyển, liên tục chuyển từ dạng hơi sang dạng lỏng (và đôi khi là cả dạng rắn). Nếu một ngày bạn không còn nhìn thấy chúng trên bầu trời, rất có thể đó cũng là lúc loài người, cùng vô số loài vật khác, sắp đi đến hồi tuyệt chủng.
1. Tại sao nước bay hơi ở nhiệt độ phòng?
Chúng ta luôn thích nghĩ về những sự vật trong thực tế theo cách đơn giản nhất và đỡ đau đầu nhất – mọi việc luôn ở nguyên một chỗ, trừ khi ta muốn nó biến đi cho khuất mắt. Nhưng ở mức độ phân tử, mọi chuyện diễn ra sôi động hơn nhiều. Các phân tử nước, như một bầy…phân tử hung hãn, luôn thích chen chúc giành giật chỗ ngồi. Khi có nhiều nước bốc hơi lên, chúng sẽ luôn có xu hướng đâm sầm vào các bề mặt và dính vào đó – đây là lý do tại sao có nhiều giọt chất lỏng trên thành ly bia lạnh của bạn.
10 câu hỏi khoa học đơn giản nhưng ít người trả lời được (Phần 2)
 

Ngược lại, khi không khí trở nên khô hơn, các phân tử nước sẽ nhảy khỏi bề mặt để bay vào không khí, liên kết cùng các phân tử khác đang lềnh phềnh trôi nổi quanh đó. Quá trình này chính là sự bốc hơi. Nếu không khí đủ khô, sẽ có nhiều hơn các phân tử nhảy vào góp vui, cốc nước của bạn sẽ mất dần các phân tử nước, và cuối cùng, bạn chỉ còn lại một chiếc cốc trống trơn.
Khả năng di chuyển vị trí từ cốc nước vào không khí kể trên được ước tính thông qua áp suất hơi. Mỗi chất lỏng có một áp suất hơi khác nhau. Acetone – một loại chất tẩy sơn móng tay, có áp suất hơi rất cao, điều này đồng nghĩa với việc nó bốc hơi rất dễ dàng. Dầu ôliu, ngược lại, có áp suất hơi rất thấp, do đó, khả năng nó bay hơi ở nhiệt độ phòng là gần như bằng không.

Đã có lời giải cho câu hỏi "Con gà có trước hay quả trứng có trước"

Các nhà khoa học Anh hôm 13/7 đã chứng minh được rằng con gà có trước quả trứng có sau, kết thúc cuộc tranh cãi xoay quanh vấn đề “con gà quả trứng.”

Theo các nhà khoa học, quả trứng chỉ được hình thành dưới sự xúc tác của một loại vật chất hóa học, trong khi đó loại vật chất hóa học này chỉ tồn tại trong buồng trứng của con gà.
Nghiên cứu phát hiện, loại vật chất hóa học này có tên gọi protein OC-17, có tác dụng như là một loại chất xúc tác, có thể đẩy nhanh tốc độ hình thành vỏ trứng, qua đó giúp bảo vệ lòng đỏ trứng gà và hình thành quả trứng.
Đã có lời giải cho câu hỏi "Con gà có trước hay quả trứng có trước"
Các nhà khoa học thuộc Đại học Sheffield và Đại học Warwick đã quan sát được quá trình hình thành quả trứng gà thông qua máy tính siêu cấp và phát hiện, protein OC-17 phát huy vai trò quan trọng trong sự hình thành bước đầu của quả trứng.
Dưới tác dụng của protein OC-17, calcium carbonate chuyển hóa thành calcite để cấu tạo lên vỏ trứng. Vì thế theo tiến sỹ Colin Freeman thuộc Đại học Sheffield, “mặc dù chúng ta luôn cho rằng, quá trứng có trước con gà, tuy nhiên những chứng cứ khoa học hiện tại lại đưa ra đáp án ngược lại.”
Phát hiện này không những giúp chúng ta nhận thức được cách thức gà đẻ trứng mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác nghiên cứu vật liệu mới.
Theo VietnamPlus

iMac và công cuộc cách mạng "all in one"

Apple đã phải trải qua nhiều cuộc "bể dâu" để có thiết kế hoàn hảo như chiếc iMac Retina màn hình 5K ra mắt cách đây ít ngày.

  • Apple sắp nâng cấp logo 'trái táo khuyết'
  • Apple iCloud Photo Beta phiên bản Web chính thức lên sóng
  • Apple sẽ ra mắt "giấy thông minh" thay thế biển quảng cáo?
  • Thêm iPad Air mới mỏng nhất thế giới, iMac Retina 5K chính thức trình làng, OS X Yosemite và iOS 8.1 đã sẵn sàng "xuất trận"
  • Apple bán ra iMac giá rẻ 1099 USD để cạnh tranh với các máy Windows
Có thể nói, Apple iMac là một trong những dòng máy tính "all in one" đặc trưng và cao cấp nhất vào thời điểm hiện tại. Thêm vào đó, chiếc máy tính huyền thoại này cũng mang đậm những dấu ấn của Jonathan Ive hay Steve Jobs lừng danh kể từ năm 1988 cho tới nay. Và nếu một lần nhìn lại, dễ thấy,Apple đã phải trải qua nhiều cuộc "bể dâu" để có thiết kế hoàn hảo như chiếc iMac Retina màn hình 5K ra mắt cách đây ít ngày.
Apple iMac G3 (1998)

iMac G3 được ra đời vào năm 1998 và là "con đẻ" của nhà thiết kế đại tài Jonathan Ive. Máy được trang bị màn hình CRT 14 inch, tích hợp vi xử lý PowerPC và sở hữu những vỏ màu khá sặc sỡ.
Apple iMac G4 (2002)

Nhận thấy sự màu mỡ từ thị trường máy bàn "all in one", Táo Khuyết tiếp tục tung ra chiếc iMac G4 với thiết kế khá độc đáo. Cụ thể, bộ vi xử lý của máy được đưa xuống phía dưới, đồng thời là giá đỡ - thay vì trang bị bộ điều khiển ở phía sau màn hình như truyền thống. Được biết, iMac G4 có 3 phiên bản là 15, 17 và 20 inch, sử dụng công nghệ màn hình LCD, cho góc nhìn tốt hơn so với các sản phẩm cùng thời điểm.
Apple eMac (2002)
Screen Shot 2014-10-19 at 12.54.19 PM.

Ra đời cùng thời điểm với chiếc iMac G4, eMac được coi là sự lựa chọn giá rẻ và dành riêng cho các trường học hoặc các tổ chức giáo dục. Trong đó, tên gọi của máy với chữ e đại diện cho từ education (mang nghĩa giáo dục). Được biết, eMac chỉ sở hữu màn hình CRT 17 inch, vi xử lý PowerPC G4 và các thế hệ eMac tiếp theo được ra đời vào năm 2003, 2004 và 2005.
Apple iMac G5 (2004)
Screen Shot 2014-10-19 at 1.00.22 PM.

Từ thời điểm năm 2004 tới năm 2006, các thiết bị của Apple trong đó có iMac đã lột xác hoàn toàn từ thiết kế nhựa thành nhôm nguyên khối. Có thể nói iMac G5 chính là đại diện mở đầu cho tư duy thiết kế của các thế hệ iMac cao cấp sau này. iMac G5 có phiên bản là 17 inch, 20 inch và 24 inch; tích hợp vi chip xử lý PowerPC và kể từ sau đó, Apple chính thức sử dụng chip của Intel.
Apple iMac 2007

Bắt đầu từ năm 2007, Apple chính thức tung ra iMac thế hệ mới sở hữu chất lượng phần cứng cao cấp hơn hẳn so với tất cả những iMac trước đây. Theo đó, vật liệu chủ yếu được dùng làm thân máy là nhôm, độ dày giảm đi đáng kể và thiết kế đã tinh tế hơn rất nhiều. Ngoài ra, Táo Khuyết cũng bỏ đi phiên bản màn hình 17 inch và chỉ cho ra 2 mẫu là 20 inch và 24 inch.
Apple iMac 2012

Tiếp tục phát huy những thành công của những người tiền nhiệm vào năm 2007, iMac thế hệ tiếp theo đã được ra đời với ý tưởng tương tự, nhưng mỏng đi rất nhiều. Vẫn thiết kế khung nhôm, máy thể hiện tư duy thiết kế tinh tế của Apple qua từng đường nét khỏe khoắn và không kém phần quyến rũ. iMac 2007 có 2 phiên bản là 21,5 inch và 27 inch, tích hợp vi xử lí Intel Core i5 hoặc i7 Ivy Bridge, dung lượng lưu trữ tối đa là 3TB và sở hữu bốn cổng USB 3.0.
Apple iMac Retina 5K (2014)

Kế thừa những hào quang của thế hệ iMac trước đó, chiếc iMac Retina 5K vừa được Apple công bố được trang bị màn hình 27 inch Retina 5K - được mệnh danh là thiết bị "all in one" có màn hình độ phân giải cao nhất hiện nay. Dựa trên thiết kế của iMac thế hệ thứ 8, với rìa màn hình chỉ 5 mm ở điểm mỏng nhất, phiên bản 27 inch mới sở hữu tấm LCD tấm nền oxide TFT, giúp tiết kiệm điện năng và hơn cả là độ phân giải 5.120 x 2.880 pixel, vượt trên cả mức 4K tiêu chuẩn khoảng 67%.

Gần nửa thế giới không trả lời nổi 3 câu đố đơn giản

Bạn có trả lời được 3 câu đố này hay không?

Theo The Atlantic, hầu hết mọi người trên thế giới không biết quản lý tiền của mình như thế nào. Bằng chứng là họ không thể trả lời đúng ba câu hỏi đơn giản về tài chính dưới đây.
Ba câu hỏi cụ thể như sau:
1. Giả sử bạn có 100 USD trong tài khoản tiết kiệm, lãi suất 2%/ năm. Sau 5 năm, bạn nghĩ bạn có bao nhiêu tiền trong tài khoản?
A) Nhiều hơn 102 USD; B) chính xác 102 USD; C) ít hơn 102 USD; D) không biết/từ chối trả lời
2. Hãy tưởng tượng rằng lãi suất tiền tiết kiệm của bạn là 1%/năm và tỷ lệ lạm phát là 2%/ năm. Sau 1 năm, bạn có thể mua sắm:
A) nhiều hơn, B) tương đương hoặc C) ít hơn ngày hôm nay với số tiền trong tài khoản trên? D) không biết/từ chối trả lời.
3. Theo bạn phát biểu sau đây là đúng hay sai? "Mua cổ phiếu của một công ty duy nhất an toàn hơn là mua cổ phiếu của một quỹ tương hỗ (mutual fund) - một loại phương tiện đầu tư tập thể được quản lý chuyên nghiệp).
A) đúng; B) sai; C) không biết/từ chối trả lời.
Câu trả lời của bạn là gì? Bạn có trả lời đúng cả ba câu đố này hay không? Nếu đúng, bạn sẽ thuộc về nhóm thiểu số trên toàn cầu, theo những phát hiện do hai nhà kinh tế học Annamaria Lusardi và Olivia Mitchell công bố.

Ở Nga, 96% những người được khảo sát không thể trả lời đúng 3 câu. Trong khi đó, 70% người Mỹ không thể trả lời một cách chính xác ba câu hỏi này. Người Đức có kết quả giải đố tốt nhất với 53% đạt điểm tuyệt đối, tỷ lệ này với người Thụy Sĩ là 50%.
Ở các nước có nền kinh tế khá mạnh, tỷ lệ khá thảm hại: 79% người Thụy Điển, 75% người Ý, 73% người Nhật và 69% người Pháp không thể trả lời đúng cả 3 câu đố.
Điều này lý giải tại sao thế giới liên tục gặp rất nhiều vấn đề về tài chính. Chúng ta thậm chí còn không hiểu cấu trúc vận hành của hệ thống tiền tệ và cách chúng được sử dụng. Thế giới đang rất cần sự giáo dục tốt hơn về chủ đề tiền bạc, tài chính và kinh tế. Tuy không thể giải quyết hoàn toàn các vấn đề về tài chính của chúng ta, nhưng thông tin thực sự là sức mạnh trong vấn đề tiền bạc. Không may là trong các trường học chúng ta không được đào tạo cơ bản về tài chính.
*Đáp án cho ba câu hỏi trên là: 1-A, 2-C và 3-B.

iPhone 6 được người dùng "hâm mộ" hơn iPhone 6 Plus

Theo báo cáo mới đây về doanh số của Apple trong quý vừa qua, tình hình kinh doanh trong mảng di động của hãng có nhiều tín hiệu khởi sắc. Đặc biệt, nhu cầu của người dùng tăng mạnh từ khi bộ đôi thiết bị iPhone 6 và iPhone 6 Plus được công bố. Tuy nhiên, điều này không mấy khó hiểu khi từ trước tới nay, mỗi khu tung ra một mẫu iPhone mới, doanh số các quý tiếp theo sẽ lập tức tăng cao.

Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng, trong số 2 chiếc iPhone vừa được Apple trình làng cách đây ít lâu, có vẻ như iPhone 6 được các tín đồ công nghệ quan tâm nhiều hơn người anh em iPhone 6 Plus. Bằng chứng là khi các chuyên gia thu thập số liệu từ 40 triệu chiếc iPhone đang hoạt động, kết quả cho thấy, iPhone 6 hiện chiếm khoảng 6% hệ sinh thái iPhone, trong khi đó iPhone 6 Plus chỉ chiếm 1%.
Và dù không còn ở thời kì đỉnh cao nhưng iPhone 5s và 5c vẫn chiếm đa số với tỷ lệ lần lượt là 27% và 25% tổng số iPhone đã được kích hoạt. Đặc biệt, số liệu thống kê còn chỉ ra rằng Phone 6 được tiêu thụ tốt hơn so với iPhone 5S khi mới được tung ra vào cùng kì năm ngoái.

Ở một khía cạnh khác, mặc dù số lượng iPhone 6 được bán ra nhiều hơn so với iPhone 6 Plus nhưng nếu xét về số lần khởi động và thời gian dành cho các ứng dụng thì chiếc phablet iPhone 6 Plus lại vượt trội hơn. Đây là minh chứng rõ rệt nhất cho xu hướng của người dùng hiện nay đó là muốntrãi nghiệm các ứng dụng trên màn hình to của iPhone 6 Plus.

Tim Cook gửi thư cho nhân viên Apple

Sau khi công bố kết quả kinh doanh quý vừa qua, Tim Cook đã gửi cho nhân viên một bức thư ca ngợi sự phát triển của công ty và cống hiến của người lao động tại

Doanh thu quý vừa qua của Apple vượt ngoài mọi dự đoán và trở thành quý có doanh thu cao nhất trong lịch sử của hãng. Tim Cook cũng gọi iPhone 6 và iPhone 6 Plus là màn ra mắt thành công nhất từ trước đến nay.
Tim Cook gửi tâm thư cho nhân viên Apple

Dưới đây là toàn văn bức thư Tim Cook gửi đến các nhân viên Apple.
"Gửi mọi người,
Hôm nay chúng ta đã công bố doanh thu quý III cao nhất của Apple từ trước đến nay, và đây cũng là quý có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 7 quý gần đây. Những kết quả này có được chính là nhờ sự cống hiến và tinh thần làm việc chăm chỉ của các bạn.
Khách hàng trên toàn cầu đang yêu mến iPhone 6 và iPhone 6 Plus. Việc ra mắt iPhone lần này nhanh chóng trở thành sự kiện thành công nhất trong lịch sử Apple. Mac lập kỷ lục trong khi phần còn lại của thị trường vẫn ảm đạm. Và App Store một lần nữa chính là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng tổng thể.
Hôm nay, chúng ta tung ra Apple Pay tại thị trường Mỹ, tạo cho khách hàng một phương thức thanh toán đơn giản, an toàn và riêng tư. Cuối tuần này, chúng ta sẽ bắt đầu bán ra iPad Air 2, máy tính bảng mỏng nhất thế giới và là tablet mạnh mẽ nhất mà Apple từng sản xuất. iMac màn hình 27 inch mới có độ phân giải 5K mà chúng ta giới thiệu vào tuần trước đã được ca ngợi như là thiết bị cho trải nghiệm thị giác tuyệt vời nhất trên máy tính. Đây là một danh sách tuyệt vời cho mùa mua sắm cuối năm.
Cuối tuần này, ban giám đốc sẽ có cuộc thảo luận với nhóm nhân viên ở Bắc Kinh. Chúng tôi sẽ đăng tải nó trên trang web của Apple và chúng tôi sẽ giải thích các câu hỏi được đặt ra ở cả các trang web khác.
Vui lòng truy cập vào trang web của Apple để gửi câu hỏi, tôi sẽ trả lời hết khả năng của mình. Xin chúc mừng kết quả mạnh mẽ vừa đạt được. Tất cả chúng ta có thể tự hào về báo cáo quý và những việc làm giúp cho Apple trở thành công ty sáng tạo nhất thế giới
Tim"

Theo Zin